I. CA CAO – TỪ NGUYÊN LIỆU NÔNG NGHIỆP ĐẾN SẢN PHẨM GIÁ TRỊ CAO.
Theo phân tích của MRFR (Công ty nghiên cứu thị trường Market Research Future – Anh Quốc), quy mô thị trường hạt ca cao đạt 17,17 tỷ USD vào năm 2024. Ngành công nghiệp hạt ca cao dự kiến sẽ tăng trưởng từ 18,43 tỷ USD vào năm 2025 lên 37,28 tỷ USD vào năm 2035, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 7,3% trong giai đoạn dự báo 2025 – 2035.

Thị trường ca cao hiện đang trải qua một giai đoạn năng động, đặc trưng bởi sự thay đổi sở thích của người tiêu dùng và nhu cầu ngày càng tăng đối với các thực tiễn bền vững. Khi nhận thức về các vấn đề môi trường ngày càng tăng, người tiêu dùng đang hướng đến các sản phẩm ca cao có nguồn gốc đạo đức. Sự chuyển dịch này đang thúc đẩy các nhà sản xuất áp dụng chuỗi cung ứng minh bạch hơn và đầu tư vào các giải pháp canh tác bền vững.
- Bắc Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất cho hạt ca cao, được thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh mẽ đối với các sản phẩm sô cô la cao cấp.
- Khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang nổi lên như một thị trường phát triển nhanh nhất, được thúc đẩy bởi sự quan tâm ngày càng tăng của người tiêu dùng đối với sô cô la thủ công.
- Hạt cacao Forastero chiếm ưu thế trên thị trường, trong khi hạt cacao Criollo đang chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng nhờ chất lượng cao cấp và hương vị độc đáo.
- Nhu cầu ngày càng tăng đối với sô cô la đen và sự gia tăng đầu tư vào nông nghiệp bền vững là những động lực chính thúc đẩy sự mở rộng thị trường.
II. TIỀM NĂNG CỦA ĐẮK LẮK DƯỚI GÓC NHÌN DOANH NGHIỆP.
Đắk Lắk sở hữu nhiều lợi thế mà doanh nghiệp chế biến ca cao đặc biệt quan tâm:
- Thứ nhất, điều kiện tự nhiên thuận lợi. Đất bazan màu mỡ, khí hậu cao nguyên ổn định, phù hợp cho cây ca cao phát triển hương vị đặc trưng – yếu tố cốt lõi để tạo ra sản phẩm chất lượng cao.
- Thứ hai, kinh nghiệm phát triển cây công nghiệp lâu năm. Đắk Lắk đã thành công với cà phê, hồ tiêu – đây là nền tảng quan trọng để ca cao có thể phát triển theo mô hình trồng xen, tăng hiệu quả sử dụng đất và thu nhập cho người nông dân.
- Thứ ba, dư địa lớn cho chế biến sâu. Hiện nay, các sản phẩm từ ca cao như socola, bột ca cao, bơ ca cao, nibs ca cao,… tại địa phương vẫn còn rất khiêm tốn. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội đầu tư rất lớn cho doanh nghiệp.
III. NHỮNG KHÓ KHĂN TỪ THỰC TIỄN CHUỖI GIÁ TRỊ CA CAO.
Tuy nhiên, từ thực tế hoạt động sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp cũng nhận thấy một số tồn tại cần được nhìn nhận thẳng thắn:
- Vùng nguyên liệu còn phân tán, quy mô nhỏ, thiếu tính ổn định. Chất lượng hạt ca cao chưa đồng đều, đặc biệt ở khâu lên men và phơi sấy – yếu tố quyết định giá trị hạt.
- Liên kết chuỗi còn lỏng lẻo, thiếu cơ chế ràng buộc lợi ích dài hạn giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp chế biến gặp khó khăn khi không chủ động được nguồn nguyên liệu đạt chuẩn, dẫn tới chi phí cao và rủi ro thị trường. Những vấn đề này nếu không được giải quyết một cách căn cơ sẽ làm giảm sức hấp dẫn của ca cao đối với cả nông dân và nhà đầu tư.
IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÙNG NGUYÊN LIỆU CA CAO – GÓC NHÌN DOANH NGHIỆP.
Từ góc nhìn của doanh nghiệp chế biến, chúng tôi đề xuất một số định hướng trọng tâm sau:
1. Phát triển vùng nguyên liệu theo chuỗi giá trị. Doanh nghiệp không thể phát triển bền vững nếu không có vùng nguyên liệu ổn định, chất lượng cao. Vì vậy, cần xác định rõ: Vùng trồng trọng điểm Quy mô phù hợp Lộ trình phát triển dài hạn Doanh nghiệp sẵn sàng tham gia ngay từ đầu vào quá trình: Lựa chọn giống – Chuyển giao kỹ thuật – Hỗ trợ sơ chế – Bao tiêu sản phẩm.
2. Chuẩn hóa chất lượng – chìa khóa để vào thị trường cao cấp. Đối với thị trường trong nước và xuất khẩu, chất lượng là yếu tố sống còn. Do đó, cần: Chuẩn hóa quy trình thu hoạch, lên men, phơi sấy, trong đó, gồm: Áp dụng các tiêu chuẩn bền vững – Tăng cường truy xuất nguồn gốc. Khi chất lượng được đảm bảo, doanh nghiệp mới có thể xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.
3. Doanh nghiệp chế biến được xem là “đầu tàu” của các Doanh nghiệp chế biến chính là:
- Đơn vị tạo giá trị gia tăng;
- Đơn vị kết nối thị trường;
- Đơn vị chia sẻ lợi ích với người trồng. Một khi doanh nghiệp đầu tư nghiêm túc, vùng nguyên liệu sẽ phát triển ổn định và bền vững hơn.
V. KIẾN NGHỊ TỪ CỘNG ĐỒNG DOANH NGHIỆP.
Để ca cao thực sự trở thành ngành hàng có giá trị tại Đắk Lắk, chúng tôi kính đề xuất:
- Có chính sách phù hợp, tạo điều kiện, kêu gọi các tổ chức Xây dựng một trung tâm sản xuất Giống ca cao tốt và đồng nhất: Chọn giống cao sản, chất lượng tốt, kháng bệnh, phù hợp với điều kiện địa phương,…
- Địa phương sớm xây dựng đề án phát triển ca cao gắn với chế biến sâu. Có chính sách hỗ trợ hình thành vùng nguyên liệu tập trung để có thể truy xuất nguồn gốc sản phẩm và hình thành các hợp tác xã chuyên canh cây ca cao.
- Khuyến khích, thu hút doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến, đặc biệt là doanh nghiệp nội địa. Hỗ trợ xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu ca cao Đắk Lắk.
- Cây ca cao được xem là cây đa mục đích: vì Là cây ưa bóng bán phần, nên có thể trồng xen canh dưới tán cây ăn trái, cây công nghiệp và cả cây rừng; Lợi ích sinh thái: Che phủ đất, giảm xói mòn, Cải tạo đất, tăng hữu cơ, Hấp thụ carbon (tiềm năng tín chỉ carbon). Cây ca cao không cạnh tranh mạnh mà còn bổ trợ cho nhiều cây trồng khác nên rất phù hợp với mô hình Nông nghiệp tái sinh – Nông nghiệp hữu cơ. Chính vì vậy chúng tôi kiến nghị các cơ quan ban ngành có liên quan xem xét và xếp cây ca cao vào danh mục cây đa mục đích. Từ đó cây ca cao có thể xen canh dưới tán rừng tự nhiên và rừng trồng.