Điều này cho thấy logistics nông sản không chỉ là kho bãi hay vận tải thông thường mà còn gắn chặt với đặc điểm sinh học của từng loại sản phẩm.
Logistics nông sản cần ‘khung xanh’ để nâng sức cạnh tranh
Sáng 22/5, lãnh đạo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) và Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và các Cục, Vụ liên quan của hai Bộ đã làm việc về triển khai Quyết định 2229 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050.

Tại buổi làm việc, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Trần Thanh Hải cho biết logistics là lĩnh vực có phạm vi rất rộng, liên quan nhiều bộ, ngành như Công Thương, Xây dựng, Tài chính, Khoa học và Công nghệ cũng như lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Theo ông Hải, Bộ Công Thương đã tham mưu Chính phủ ban hành Quyết định 2229 nhằm phát triển dịch vụ logistics bền vững, hiệu quả và có năng lực cạnh tranh cao. Chiến lược gồm nhiều nhóm nhiệm vụ như hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển thị trường, tăng năng lực doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
Ông cho biết thời gian qua Bộ Công Thương đã làm việc với nhiều bộ, ngành và đang tiếp tục phối hợp với các địa phương trọng điểm logistics, doanh nghiệp tiên phong và hiệp hội ngành hàng để triển khai chiến lược.
Theo ông Trần Thanh Hải, logistics nông nghiệp là một trong những trọng tâm quan trọng của chiến lược quốc gia do nhóm hàng nông sản, thủy sản và lâm sản có khối lượng lớn, đồng thời mang đặc thù khác biệt so với hàng công nghiệp.

Ông cho rằng hàng nông sản liên quan trực tiếp tới sức khỏe và đời sống người dân nên yêu cầu bảo quản, lưu giữ và vận chuyển nghiêm ngặt hơn nhiều so với các mặt hàng công nghiệp thông thường.
“Giày dép hay hàng tiêu dùng có thể lưu kho hoặc vận chuyển đường biển thời gian dài mà ít ảnh hưởng, nhưng nông sản tươi sống đòi hỏi điều kiện bảo quản đặc biệt ngay từ khâu vận chuyển”, ông nói.
Ngoài logistics nông nghiệp, ông Hải nhấn mạnh chuyển đổi xanh là nhiệm vụ quan trọng trong Quyết định 2229. Ông cho rằng logistics hiện là một trong những ngành phát thải lớn cùng với năng lượng và công nghiệp. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng áp dụng tiêu chuẩn xanh, doanh nghiệp logistics Việt Nam nếu không đáp ứng yêu cầu môi trường sẽ mất lợi thế cạnh tranh.
Một đại diện khác từ phía Bộ Công Thương cũng cho biết, nguồn lực cho chuyển đổi xanh còn hạn chế nên Bộ mong muốn các đơn vị thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đặc biệt các đơn vị phụ trách môi trường và biến đổi khí hậu, tham gia phối hợp xây dựng chương trình chuyển đổi xanh logistics.
Theo đó, cần xây dựng khung tiêu chuẩn xanh chung để các ngành, lĩnh vực căn cứ triển khai. Bộ Công Thương cũng dự kiến xây dựng khung chuyển đổi số, chuyển đổi xanh theo hướng đưa ra tiêu chí, chỉ tiêu vừa đảm bảo mục tiêu, vừa thuận lợi cho theo dõi và đánh giá. Khi có khung tổng thể, các lĩnh vực chuyên ngành sẽ dựa vào đó để xây dựng chương trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh riêng phù hợp với đặc thù.
Logistics nông sản gắn với đặc điểm sinh học
Ông Lê Bá Anh, Phó Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, cho biết lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặc biệt coi trọng vai trò logistics đối với ngành nông sản.
Theo ông, logistics nông sản có đặc thù riêng, đòi hỏi yêu cầu cao về bảo quản, vận chuyển và xử lý thủ tục nhằm duy trì tốc độ lưu thông cũng như chất lượng sản phẩm. Trong khi đó, thất thoát sau thu hoạch và hư hỏng trong quá trình vận chuyển hiện vẫn ở mức cao.
Sau khi Quyết định 2229 được ban hành ngày 9/10/2025, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành kế hoạch hành động triển khai chiến lược vào ngày 10/12/2025, trong đó xác định các nhiệm vụ trọng tâm và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng đơn vị.
Theo ông Bá Anh, nhiều nội dung trong kế hoạch liên quan trực tiếp đến logistics xanh và phát triển bền vững. Cục Môi trường được giao tham gia đánh giá, kiểm soát tác động môi trường và phối hợp phát triển logistics xanh.

Đối với nhiệm vụ phát triển hệ thống logistics nông sản, ông cho biết Bộ đã đưa nội dung này vào chương trình công tác năm 2026 và dự kiến ban hành kế hoạch trong tháng 5/2026.
Ông Bá Anh cho rằng logistics nông sản có tính đa dạng rất lớn giữa từng ngành hàng nên kế hoạch sẽ được xây dựng theo hướng khung tổng thể thay vì áp dụng cứng cho mọi lĩnh vực.
Ông lấy ví dụ logistics cho na Chi Lăng (Lạng Sơn) cần hệ thống vận chuyển từ vùng núi xuống điểm tập kết và kết nối với hạ tầng giao thông quốc gia. Trong khi đó, logistics cho tôm hùm tại Khánh Hòa, Phú Yên lại yêu cầu duy trì môi trường nước biển trong suốt quá trình vận chuyển ra Móng Cái để xuất khẩu sang Trung Quốc.
“Tôm hùm không thể vận chuyển như hàng đông lạnh thông thường mà phải thay nước nhiều lần để đảm bảo chất lượng và giữ giá trị thương phẩm”, ông nói.
Ông cũng dẫn trường hợp cua Cà Mau phải duy trì sự sống trong suốt quá trình vận chuyển vì chỉ cần một con chết có thể ảnh hưởng cả lô hàng.
Đối với cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long, theo ông Bá Anh, cá phải được vận chuyển sống từ vùng nuôi tới nhà máy bằng phương tiện chuyên dụng như ghe đáy đục nhằm duy trì lưu thông nước và đảm bảo chất lượng trước chế biến.

“Điều này cho thấy logistics nông sản không chỉ là kho bãi hay vận tải thông thường mà còn gắn chặt với đặc điểm sinh học của từng loại sản phẩm”, ông nói.
Theo lãnh đạo Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, logistics cho lúa gạo, rau quả, sầu riêng hay thủy sản đều có yêu cầu riêng về bảo quản và kết nối hạ tầng.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng chủ trương tránh trùng lặp với nhiệm vụ đã giao cho Bộ Công Thương và các địa phương trong chiến lược logistics quốc gia, đặc biệt với các trung tâm logistics vùng. Thay vào đó, bộ sẽ tập trung vào giải pháp giúp nông sản tiếp cận hiệu quả với các trung tâm logistics, cửa khẩu và hạ tầng chung.
Ngoài ra, bộ đã gửi văn bản tới các hiệp hội ngành hàng và địa phương nhằm rà soát thực trạng logistics nông sản, tổng hợp các đề xuất phục vụ hoàn thiện kế hoạch phát triển logistics thời gian tới.
Theo Quyết định 2229/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến 2050 đặt mục tiêu phát triển logistics bền vững, hiệu quả, chất lượng cao và có năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Các nhóm giải pháp trọng tâm gồm hoàn thiện thể chế pháp luật; phát triển hạ tầng logistics đồng bộ; thúc đẩy liên kết vùng; phát triển thị trường logistics; nâng cao năng lực doanh nghiệp; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao vai trò của các hiệp hội, doanh nghiệp tiên phong.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp & Môi Trường