BÀI VIẾT

TIN TỨC - BÀI VIẾT - CẬP NHẬT

Cập nhật nhanh chóng và chính xác những thông tin mới nhất về hoạt động doanh nghiệp. Bên cạnh đó, có thể theo dõi các bài phân tích chuyên sâu, thông báo quan trọng, sự kiện nổi bật do đội ngũ chuyên môn của LPF FUND thực hiện.

Vốn xanh nông nghiệp gặp 5 “điểm nghẽn” lớn, đề xuất ngân hàng thay đổi cách tài trợ nhỏ lẻ sang cả hệ sinh thái

Ngành nông nghiệp không thể tiếp tục phát triển dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, lao động giá rẻ và tăng trưởng sản lượng đơn thuần, mà cần hướng tới mô hình phát triển bền vững, hiện đại và có trách nhiệm. Chuyển đổi xanh đang trở thành yêu cầu bắt buộc với ngành này khi tiêu chuẩn ESG, phát thải carbon và truy xuất nguồn gốc ngày càng siết chặt trên thị trường toàn cầu.

Đó là khẳng định của ông Hồ Xuân Hùng, Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và PTNT Việt Nam tại Hội thảo “Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp: Cơ hội cho doanh nghiệp và hợp tác công – tư (PPP)”, do Tổng hội Nông nghiệp và PTNT Việt Nam tổ chức tại TP.HCM mới đây.

Dư nợ tín dụng xanh đạt 750.000 tỷ đồng, tăng trưởng 21%/năm

Ông Hồ Xuân Hùng nhấn mạnh thêm, trong bối cảnh các tiêu chuẩn ESG (viết tắt từ 3 chữ cái đầu của: Environment – môi trường, Social – xã hội và Governance – quản trị doanh nghiệp), phát thải carbon và truy xuất nguồn gốc ngày càng trở thành yêu cầu bắt buộc của thị trường toàn cầu, thì ngành nông nghiệp Việt Nam cần chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng “xanh hơn, thông minh hơn, phát thải thấp hơn và giá trị gia tăng cao hơn”.

Ông Hồ Xuân Hùng, Chủ tịch Tổng hội Nông nghiệp và PTNT Việt Nam khẳng định chuyển đổi xanh là yêu cầu bắt buộc khi tham gia thị trường toàn cầu. Ảnh: P.V

Ở góc độ tài chính, ông Phan Đình Tuệ, thành viên HĐQT Sacombank; Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP.HCM dẫn số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thấy, đến cuối tháng 11/2025, dư nợ tín dụng xanh cả nước đạt khoảng 750.000 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân khoảng 21%/năm trong giai đoạn 2017 – 2025, cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

“Điều này cho thấy xu hướng xanh hóa dòng vốn đang trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đây là tín hiệu rất tích cực. Tuy nhiên, nếu nhìn tổng thể, chúng ta sẽ thấy quy mô và tỷ trọng tín dụng xanh hiện nay vẫn còn rất khiêm tốn so với các lĩnh vực khác. Theo quan sát của chúng tôi, có một số điểm nghẽn lớn đang hạn chế sự phát triển của tín dụng xanh trong nông nghiệp”, ông Tuệ nói.

Thứ nhất, đó là thiếu hệ thống tiêu chí xanh thống nhất và khả năng lượng hóa rủi ro. Nhiều doanh nghiệp và cả tổ chức tín dụng hiện vẫn gặp khó khăn trong việc xác định thế nào là một dự án thực sự “xanh”, tiêu chí đánh giá ra sao, mức độ ưu tiên và cơ chế giám sát sau cấp vốn như thế nào.

Thứ hai, đặc thù của ngành nông nghiệp có mức độ rủi ro cao, khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền và chất lượng tín dụng. Thứ ba, cấu trúc tài chính của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp còn hạn chế. Không ít doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã thiếu tài sản bảo đảm, hệ thống quản trị tài chính chưa hoàn thiện, dữ liệu vận hành còn thiếu minh bạch, dẫn đến khó tiếp cận vốn ngân hàng.

Thứ tư, phần lớn các ngân hàng vẫn tài trợ từng doanh nghiệp riêng lẻ thay vì theo hệ sinh thái, chuỗi giá trị từ vùng nguyên liệu, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, logistics cho đến nhà phân phối hoặc đối tác nhập khẩu.

Ông Phan Đình Tuệ – Thành viên HĐQT Sacombank cho rằng, điều quan trọng là dòng vốn phải được dẫn dắt đúng hướng, đầu tư đúng mô hình và đáp ứng đúng nhu cầu chuyển đổi của thị trường. Ảnh: P.V

Trên cơ sở đó, ông Tuệ cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi xanh hiện nay, ngân hàng cần chuyển dịch sang vai trò mới – không chỉ là đơn vị cho vay, mà là một “kiến trúc sư tài chính” cho hệ sinh thái nông nghiệp bền vững.

“Ngân hàng không chỉ là cấp vốn như truyền thống mà phải trở thành đơn vị đồng hành, kiến tạo hệ sinh thái tài chính cho phát triển nông nghiệp xanh. Ví dụ, các doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu đạt chuẩn, áp dụng công nghệ giảm phát thải, sử dụng năng lượng sạch hoặc đáp ứng tiêu chuẩn ESG cần được tiếp cận cơ chế tín dụng ưu đãi về lãi suất, phí và thời hạn tài trợ”, ông Tuệ khẳng định.

Trong nông nghiệp, giá trị không được tạo ra bởi một doanh nghiệp đơn lẻ mà bởi cả một chuỗi liên kết gồm vùng nguyên liệu, nông dân, hợp tác xã, nhà máy chế biến, đơn vị logistics, doanh nghiệp xuất khẩu và đối tác tiêu thụ cuối cùng. Do đó, theo ông Tuệ, mô hình tài trợ vốn cần dịch chuyển từ tư duy cho vay từng mắt xích sang tài trợ cả hệ sinh thái. Đơn cử, với ngành lúa gạo, ngân hàng không chỉ tài trợ doanh nghiệp xuất khẩu, mà cần thiết kế giải pháp xuyên suốt từ tài trợ thu mua lúa, kho chứa, chế biến, logistics đến hợp đồng xuất khẩu.

Các ngân hàng cũng cần mạnh dạn chuyển dịch từ mô hình cấp tín dụng dựa chủ yếu vào tài sản bảo đảm sang mô hình đánh giá dựa trên dòng tiền, lịch sử vận hành, hợp đồng đầu ra và khả năng kiểm soát nguồn thu.

“Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp hiện nay muốn chuyển đổi xanh nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu, vì thiếu thông tin về tiêu chuẩn quốc tế, thiếu nguồn vốn và cả chuyên môn triển khai. Vì vậy, ngân hàng cần đóng vai trò tư vấn, kết nối hệ sinh thái, kết nối các tổ chức hỗ trợ quốc tế, quỹ phát triển xanh, công ty công nghệ và các đơn vị đánh giá ESG nhằm giúp doanh nghiệp từng bước nâng cấp năng lực cạnh tranh”, ông Tuệ nêu đề xuất.

Các đại biểu tham dự Hội thảo “Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp: Cơ hội cho doanh nghiệp và hợp tác công – tư (PPP)”. Ảnh: P.V

Kết nối nguồn lực và thúc đẩy hợp tác công – tư: Trung tâm của chuyển đổi xanh trong nông nghiệp

Tại hội thảo, TS. Nguyễn Ngọc Bảo, Chủ tịch HĐQT Antesco An Giang cho rằng, xu hướng giảm phát thải, tăng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn ESG đang tạo áp lực thay đổi rất lớn đối với doanh nghiệp xuất khẩu nông sản. Doanh nghiệp chậm chuyển đổi xanh sẽ gặp khó khăn trong duy trì lợi thế cạnh tranh và tiếp cận thị trường quốc tế.

“Vấn đề lớn nhất hiện nay là nguồn lực cho chuyển đổi xanh còn phân tán. Nhà nước có chính sách nhưng ngân sách có hạn; doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư nhưng còn vướng hạ tầng, đất đai, thủ tục và rủi ro thị trường; ngân hàng có vốn nhưng thiếu tiêu chí đánh giá dự án xanh phù hợp với nông nghiệp; hợp tác xã và nông dân có đất đai, kinh nghiệm sản xuất nhưng thiếu vốn, công nghệ, dữ liệu và năng lực quản trị; các tổ chức quốc tế có kinh nghiệm nhưng cần cơ chế phối hợp hiệu quả với địa phương và khu vực tư nhân. Vì vậy, nếu không có cơ chế kết nối đồng bộ, các nguồn lực tốt vẫn có thể bị phân tán, trùng lặp hoặc không đến đúng nơi cần nhất”, TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng hội Nông nghiệp và PTNT Việt Nam.

TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng hội Nông nghiệp và PTNT Việt Nam cho rằng, thúc đẩy hợp tác công – tư là trung tâm của chuyển đổi xanh trong nông nghiệp. Ảnh: P.V

Đây chính là lý do hợp tác công – tư (PPP) cần được đặt ở trung tâm của chuyển đổi xanh nông nghiệp. PPP không thay thế vai trò của Nhà nước, cũng không biến trách nhiệm công thành gánh nặng của doanh nghiệp. PPP là cơ chế để phân định vai trò, chia sẻ rủi ro, tận dụng thế mạnh của từng bên và tạo ra giá trị chung: Nhà nước có thêm nguồn lực thực thi chính sách; doanh nghiệp có môi trường đầu tư ổn định; người dân có sinh kế tốt hơn; thị trường có sản phẩm an toàn, xanh và có trách nhiệm.

Ông Ngọc dẫn chứng: “Ví dụ tại Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL”, đây không chỉ là một đề án sản xuất lúa, mà là mô hình chuyển đổi hệ thống: Tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, áp dụng quy trình canh tác bền vững, giảm phát thải, nâng cao thu nhập người trồng lúa, bảo vệ môi trường và đóng góp vào cam kết quốc tế của Việt Nam.

Những nội dung như giảm giống gieo sạ, sử dụng phân bón hợp lý, quản lý nước tiết kiệm, thu gom và sử dụng rơm rạ, giảm thất thoát sau thu hoạch chính là các cấu phần cụ thể của nông nghiệp xanh”.

“PPP trong trồng trọt có thể triển khai theo nhiều hình thức: Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ hạ tầng thủy lợi, giao thông nội đồng, dữ liệu vùng trồng và khuyến nông; doanh nghiệp đầu tư giống, vật tư đầu vào, máy móc, kho lạnh, sơ chế, chế biến, logistics và thị trường; ngân hàng cung cấp gói tín dụng chuỗi giá trị; tổ chức quốc tế hỗ trợ tiêu chuẩn, đo lường phát thải và chứng nhận; nông dân, hợp tác xã tham gia sản xuất theo hợp đồng. Nếu cơ chế này vận hành tốt, trồng trọt Việt Nam có thể vừa giảm chi phí, vừa tăng khả năng tiếp cận thị trường cao cấp”, ông Nguyễn Trí Ngọc hiến kế.

Để chuyển đổi xanh đi vào thực chất, TS. Nguyễn Trí Ngọc nhấn mạnh, nông nghiệp cần ba nhóm nguồn lực then chốt: tài chính xanh, công nghệ xanh và dữ liệu tin cậy. Trong đó cần phát triển các gói tín dụng theo chuỗi giá trị, trong đó doanh nghiệp đầu chuỗi, hợp tác xã, nông dân và ngân hàng cùng tham gia.

Nguồn: Báo Dân Việt

Bài viết liên quan