Thời gian qua, diện tích cây ca cao chưa phát triển xứng với tiềm năng, ngoài yếu tố cạnh tranh cây trồng còn do quy trình kỹ thuật, cơ chế chính sách.
Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung bộ có tiềm năng rất lớn để mở rộng diện tích cây ca cao, mặt khác vùng này cũng được đánh giá có chất lượng hương vị đặt biệt, nhưng thực tế diện tích mới chỉ đạt trên 2.000 ha, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Vây đâu là nguyên nhân?

Canh tranh cây trồng và thiếu chính sách
Ông Nguyễn Văn Kiên, Phó Giám đốc Trung tâm Cung ứng dịch vụ công xã Ea Knốp, tỉnh Đắk Lắk là người gắn bó với cây ca cao từ khi có mặt tại địa phương, khi đó ông còn làm ở ngành nông nghiệp tỉnh nên rất thấu hiểu vì sao loại cây ca cao có nhiều thăng trầm và diện tích loại cây trồng này của địa phương cũng dừng lại ở mức khoảng trên 1.100ha.
Ông Nguyễn Văn Kiên cho biết, cây ca cao được đưa vào trồng tại tỉnh Đắk Lắk từ năm 2007, với định hướng phát triển thành sản phẩm hàng hóa. Thời điểm đó có dự án do một tổ chức phi chính phủ tài trợ để phát triển cây ca cao và cây trồng này như một nhân duyên đồng hành cùng ông từ đó đến nay.
Theo ông Kiên, sở dĩ cây ca cao chưa chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của vùng đất Tây Nguyên có ba yếu tố chính. Thứ nhất, trong quá trình phát triển lâu dài, cây ca cao luôn phải cạnh tranh về giá trị kinh tế với các cây trồng chủ lực của Tây Nguyên như cà phê, hồ tiêu và sầu riêng. Thứ hai, khi cây ca cao mới được đưa vào trồng, kinh nghiệm và trình độ sản xuất, kiến thức kỹ thuật của người dân vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Trong khi đó, phát triển cây ca cao đòi hỏi người dân phải đầu tư bài bản, đúng kỹ thuật trong ba năm đầu.
Thứ ba, chính sách dành cho cây ca cao chưa đủ lớn so với những cây trồng chủ lực khác trên địa bàn Tây Nguyên. Do vậy, các dự án, đề án, phương án phát triển cây ca cao không nhiều. Điều này ảnh hưởng đến việc mở rộng diện tích và phát triển cây ca cao quy mô lớn.
Còn ông Phạm Hồng Đức Phước, nguyên cán bộ Trường Đại học Nông lâm TP. HCM cho rằng, để cây ca cao phát triển, chúng ta phải chọn được vùng trồng thích hợp, đặc biệt là những vùng có mức độ cạnh tranh giữa các loại cây trồng thấp. Ở những vùng như vậy, cơ hội phát triển cây ca cao sẽ cao hơn.
“Trước đây, chương trình phát triển ca cao gặp trở ngại, có thời điểm diện tích tăng lên rồi lại giảm xuống. Một trong những nguyên nhân là sự cạnh tranh quá mạnh của các loại cây trồng khác. Khi một loại cây trồng khác có giá trị kinh tế tăng lên thì cây ca cao lại bị thu hẹp. Vì vậy, tôi cho rằng trong thời gian tới, muốn phát triển nhanh và bền vững thì nên tìm những vùng đất mới, nơi có sự cạnh tranh giữa các loại cây trồng thấp hơn. Khi đó, cơ hội phát triển cây ca cao sẽ nhanh và mạnh hơn”, ông Phạm Hồng Đức Phước chia sẻ.
Bà Đoàn Thị Kim Xuyến, Giám đốc Công ty TNHH Cacao Land cho biết, hiện nay tại Đắk Lắk vẫn còn những vùng trồng ca cao với diện tích lớn nhiều năm tuổi, điều đó chứng tỏ cây ca cao có hiệu quả kinh tế cho người dân địa phương. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu phát triển, cây ca cao chưa có sự chuẩn hóa và đồng bộ từ khâu cây giống, kỹ thuật, sơ chế, chế biến đến thị trường. Điều này dẫn đến việc cây ca cao bị mai một ở một số địa phương.
Liên kết chưa bền vững
Ở góc độ quản lý nhà nước, theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, diện tích ca cao của địa phương thời gian qua chưa phát triển tương xứng với tiềm năng nguyên nhân không chỉ nằm ở một khâu, mà là tổng hợp của nhiều yếu tố trong chuỗi sản xuất.

Trước hết, cây ca cao đòi hỏi người dân phải nắm vững kỹ thuật trồng, chăm sóc, tạo tán, quản lý sâu bệnh và đặc biệt là kỹ thuật thu hoạch, sơ chế sau thu hoạch. Trong thực tế, sản xuất còn phân tán, quy mô hộ nhỏ, một số nơi chưa hình thành được vùng nguyên liệu đủ lớn, đồng đều về chất lượng. Đây là một trong những hạn chế khi muốn phát triển ngành hàng theo hướng hàng hóa.
Thứ hai là thị trường và giá cả. Đây là yếu tố tác động rất lớn đến quyết định của người nông dân. Khi giá hoặc đầu ra của ca cao chưa tạo được sự ổn định trong thời gian dài, người dân sẽ có tâm lý thận trọng, nhất là khi họ đang có những cây trồng chủ lực đã có thị trường tương đối rõ như cà phê. Vì vậy, để người dân mạnh dạn đầu tư, vấn đề quan trọng là phải tạo được niềm tin về đầu ra và hiệu quả kinh tế lâu dài.
Thứ ba là liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, đây là một khâu cần tiếp tục được củng cố. Nếu chỉ vận động người dân trồng mà không đồng thời xây dựng vùng nguyên liệu, tổ chức thu mua, kiểm soát chất lượng và có doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi thì rất khó phát triển diện tích ổn định. Ngược lại, khi người dân biết sản xuất cho ai, tiêu chuẩn như thế nào và sản phẩm được thu mua ra sao thì khả năng mở rộng vùng nguyên liệu sẽ tốt hơn.

Còn theo Chi Cục Trồng trọt và BVTV tỉnh Lâm Đồng, cây ca cao từng trải qua giai đoạn giá cả thiếu ổn định. Khi giá xuống thấp, trong khi chi phí chăm sóc và yêu cầu kỹ thuật tương đối cao, một bộ phận nông dân đã chuyển sang các cây trồng khác có giá trị kinh tế và thị trường tiêu thụ tốt hơn.
Bên cạnh yếu tố thị trường, một số diện tích ca cao trước đây bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh, kỹ thuật chăm sóc chưa đồng đều và chất lượng giống chưa được kiểm soát tốt. Đối với cây ca cao, giống, mật độ trồng, kỹ thuật tạo tán, phòng trừ sâu bệnh, thu hái và đặc biệt là khâu lên men, sơ chế có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cũng như chất lượng hạt.
Một nguyên nhân khác là sản xuất ca cao còn phân tán, quy mô hộ nhỏ, việc liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp ở một số nơi chưa thật sự bền vững. Khi vùng nguyên liệu chưa đủ lớn và chất lượng sản phẩm chưa đồng đều thì việc đầu tư cơ sở sơ chế, chế biến sâu cũng gặp khó khăn.
Thực tế lịch sử phát triển ca cao tại Lâm Đồng cho thấy, từng có thời điểm diện tích được mở rộng khá nhanh, nhưng sau đó giảm do giá cả không ổn định và dịch bệnh. Những năm gần đây, khi giá ca cao cải thiện và xuất hiện các điểm thu mua, sơ chế, chế biến gắn với vùng nguyên liệu, người dân bắt đầu quan tâm trở lại. Tại xã Cát Tiên 2, giá ca cao được ghi nhận tăng từ khoảng 4.000 đồng/kg lên khoảng 17.000 đồng/kg trong giai đoạn gần đây, cùng với sự xuất hiện của cơ sở thu mua, chế biến tại địa phương đã tạo thêm động lực cho nông dân duy trì và mở rộng diện tích.
Nguồn: Báo Nông Nghiệp & Môi Trường