(CLO) Chỉ khoảng 30% doanh nghiệp nông nghiệp tại Việt Nam đang ứng dụng công nghệ số, chủ yếu ở các khâu cơ bản như nhập liệu, truy xuất nguồn gốc hay quản lý bán hàng.
Tại Hội thảo “Chuyển đổi số xanh: Động lực phát triển doanh nghiệp trong kỷ nguyên mới” diễn ra ngày 30/3, PGS. TS Phạm Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ cho biết, theo “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” được phê duyệt theo Quyết định 749/QĐ-TTg của Chính phủ, nông nghiệp được xác định là 1 trong số 8 lĩnh vực ưu tiên hàng đầu cho chuyển đổi số.
Thực tế cho thấy quá trình chuyển đổi đang từng bước đưa sản xuất nông nghiệp từ “dựa vào kinh nghiệm” sang “quản trị chính xác”. Nhiều công nghệ đã được đưa vào sản xuất như IoT giám sát môi trường, thiết bị bay không người lái phun thuốc, trí tuệ nhân tạo dự báo dịch bệnh, cùng các nền tảng truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử nông sản. Những giải pháp này không chỉ giúp đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế mà còn góp phần nâng cao giá trị sản phẩm.
Bên cạnh đó, trong các chương trình sản xuất nông nghiệp phát thải thấp, việc số hóa quy trình đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) đang tạo ra cơ sở dữ liệu minh bạch phục vụ cấp tín chỉ carbon. Đây được xem là hướng đi mới, mở ra nguồn tài chính xanh tiềm năng cho doanh nghiệp nông nghiệp.
Tuy nhiên, theo PGS. TS Phạm Anh Tuấn, hiện nay có khoảng 30% doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ số, chủ yếu tập trung ở các khâu nhập liệu, truy xuất nguồn gốc, quản lý bán hàng. Việc áp dụng công nghệ như IoT, thiết bị bay không người lái trong sản xuất nông nghiệp… mới chỉ xuất hiện ở một số doanh nghiệp lớn và trang trại quy mô lớn.

Mức độ ứng dụng công nghệ xanh như nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn hay các giải pháp giảm phát thải vẫn chưa phổ biến rộng rãi. Các công nghệ còn rời rạc, thiếu hệ sinh thái tích hợp dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và tự động hóa toàn diện.
Trong khi đó, trên thế giới, PGS. TS Phạm Anh Tuấn, các nước phát triển đã phát triển cả về chiều sâu và quy mô; áp dụng công nghệ số trong các khâu truy xuất nguồn gốc, quản lý bán hàng.
Các doanh nghiệp nông nghiệp tại Mỹ, Nhật Bản, châu Âu (EU) đã áp dụng dữ liệu lớn (Big Data), AI để dự báo thời tiết, sâu bệnh, sử dụng robot tự động hóa trong canh tác, thu hoạch và quản lý trang trại thông minh.
Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi tại Việt Nam, các chuyên gia cho rằng cần hoàn thiện khung chính sách tích hợp giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Trong đó, cần xây dựng cơ chế tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi cho các dự án nông nghiệp chính xác, nông nghiệp tuần hoàn và chế biến sâu.
Đồng thời, cần ban hành các cơ chế khuyến khích phát triển thị trường carbon trong nông nghiệp, thúc đẩy các mô hình như canh tác carbon hay tín chỉ carbon. Việc chuẩn hóa hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn về truy xuất nguồn gốc và đánh giá phát thải cũng là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Về hạ tầng, cần đầu tư đồng bộ hệ thống internet băng rộng đến các vùng sản xuất, phát triển mạng lưới cảm biến và trạm quan trắc, đồng thời xây dựng các nền tảng số phục vụ quản lý trang trại, truy xuất nguồn gốc và giao dịch nông sản.
Các chuyên gia cũng nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực. Trong đó, triển khai chương trình “Nông dân số – Nông dân xanh” thông qua việc đào tạo kỹ năng số; nâng cao nhận thức sản xuất bền vững, phát triển đội ngũ chuyên gia liên ngành; thúc đẩy mô hình liên kết 4 nhà (Nhà nước – Viện nghiên cứu – Doanh nghiệp – Nông dân) theo chuỗi giá trị; xây dựng cụm đổi mới sáng tạo nông nghiệp; thử nghiệm công nghệ, ươm tạo startup nông nghiệp.
Đồng thời, tăng cường tiếp nhận công nghệ từ các quốc gia phát triển như EU, Nhật Bản, Israel hay Hà Lan để nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, tích cực tham gia mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu, phát triển doanh nghiệp dẫn dắt trong từng ngành hàng.
Nguồn: Báo Chí & Công Luận